Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Tản mạn’ Category

Hà thành du ký

Vừa rồi bác Dũng nhận giấy mời ra Hà Nội dự hội nghị thông báo Hán Nôm 2011, gạ gẫm mình đi, còn gửi đoạn chat anh Thắng “giao thông” lập lịch trình tiếp đãi nhem thèm, đọc thấy đi chơi chùa Hương xơi vịt Vân Đình nên lòng dạ rạo rực chân cẳng bồn chồn, nhưng năm nay nghỉ phép hơi nhiều, lại ớn cái lạnh xứ Bắc nên còn chần chừ. Sau rồi quyết định dông một chuyến, ngoài kia chẳng còn “cơ sở cách mạng”, mấy khi có dịp thế này.

Bác Dũng mua vé, xe đi 5h chiều 23/11, dặn dò địa điểm đâu đấy, 4h50 mình có mặt, tìm tới đại lý 44 Nguyễn Tri Phương chờ, mãi chả thấy bác í đâu, liền vào hỏi, tay trực bảo hôm nay chẳng bán vé nào cho 3 người đi cùng lần (có con bác Dũng ra học nữa), mà đường này cả một loạt nhà cùng số 44, tất cả cũng là đại lý bán vé của các hãng xe, sốt ruột 4h55 nhắn tin hỏi lão í chẳng giả nhời, nghĩ bọn xe tour thường khởi hành đúng giờ, thôi bỏ mẹ rồi, 5h05 mới thấy lão lơ ngơ chở chị vợ tới liền mừng húm giục thằng em đuổi theo, thì ra khách sạn tuốt bên kia đường (hai nhà cách nhau con đường Hùng Vương cũng cùng một số), khuân đồ vào, thở phào ngồi chờ, gặp nhà thằng bạn cũ nên vào uống nước tán phét khá lâu, đợi mãi gần 6h mới có xe trung chuyển tới, vẫn chưa hết, về nơi tập kết còn chờ thêm 30 phút nữa mới lên xe, đúng 6h30 khởi hành. Mình lần đầu tiên đi xe giường nằm, chả thấy số má gì, cu con bác Dũng lủi tuốt xuống cuối xe vẫy í ới (thằng này học ngoài kia vào ra nhiều lần rồi mà vẫn còn lơ ngơ, mình không đi mua vé nên chẳng biết, mãi sau này hỏi chú Tuấn “rọ” mới biết phân biệt hạng giường dựa trên giá vé, thì ra hai lần ra vào đều mua vé giường đầu xe cả, chỗ đấy rất êm, nhưng chuyện đó kể sau), chọn giường bên phải cuối xe (thói quen lúc nào cũng chọn bên phải), cất đồ xong xuôi, ngả lưng duỗi chân thoải mái, ghế ngồi chỉ ngả ra sau chút cũng ngủ được huống chi thế này, thật là khoái chí, chợt nhớ tên đồng nghiệp cũ có tính Xêkô, có hôm hết chuyện buôn ngứa miệng chê mình lùn, mỗi mét sáu ba trong khi hắn mét bảy mốt, mình cười khẩy bảo ừ nếu lỡ chiến tranh xảy ra bắt anh em ra chiến trường, khi nguy cấp tui chỉ cần xúc vài xẻng đất là yên tâm núp dưới hố rồi, bác dài thế kia làm đào sao cho kịp thôi thì cứ học theo con đà điểu chổng mông rúc đầu xuống hố, thà hy sinh bàn tọa còn hơn bay mất gáo, haha… Cuối xe bị lắc nhiều như toa cuối tàu lửa vậy, xe có WC nhưng khốn nỗi đường sá nước ngoài phẳng phiu êm ru chứ xứ ta khác, chui vào đó y như bị thả vào chiếc hộp nhồi cho thất điên bát đảo, muốn đến được huyện Mường Tè quả là thiên nan vạn nan, bởi thần kinh con người tập trung một lúc cho một việc, xe chao một phát lập tức quyền điều khiển được giành cho việc ổn định thăng bằng cơ thể mà quên phứt cái việc cần kíp kia, keke…

Mình vốn ít ưa nhạc miền Tây sông nước, nghe dăm ba bài hay hay còn được chứ nghe hoài thấy ớn, bị tra tấn gần chục bài nhà xe chuyển đĩa, ai ngờ tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, tới phiên nàng H.Ngọc và chàng họ Đờm rống, đen đủi thay cái loa nằm ngay trên đầu, muốn phát khùng, liếc màn hình thấy gã kia đầu cắm mấy chiếc lông chim lơ thơ sặc sỡ phẩy tay một cái vếch mặt nhìn trời còn em nọ bò lổm ngổm quằn quại giữa sân khấu vẻ như tìm lượm cái gì đấy, có lẽ lượm trái tim thằng kia vừa ném đi, chối mắt chối tai đếch chịu được.

Đeo earphone nghe nhạc, giấc ngủ cứ chập chờn lắc lư theo từng vòng bánh xe quay, đang mơ màng thì bị cái lạnh đánh thức, đã 4h sáng rồi, nhìn bảng hiệu ven đường biết đang đi ngang Thanh Hóa, tỉnh đầu tiên khi ra miền Bắc, cửa kính đọng đầy hơi sương, từng giọt miên man lăn từng vệt dài…
Cái rét đầu mùa…

Hơn 6h sáng 24/11 đến nơi, tưởng ra ngoài gặp đợt rét, không ngờ mát mẻ dễ chịu, ở tại chi nhánh Cty Dược Huế cơ quan chị bác Dũng, TV máy lạnh đàng hoàng chỉ chán cái nước máy yếu quá chảy ri rỉ, tắm nước nóng mà phải hứng từng gáo dội mất cả thích. Hà Nội ra đường thấy ớn khói bụi mù đi xa lắc xa lơ, tham gia giao thông chỉ cần để ý thằng đi trước kẻo nhỡ nó tạt ngang hay phanh gấp thì không tránh kịp chứ chẳng thèm để ý kẻ đi sau (vì nó cũng đang để ý mình rồi),  bác Dũng như cá gặp nước tha hồ trổ tài bẻ lái cắt cua các kiểu làm dân Hà thành cũng phải trố mắt nhìn theo bái phục. 8h30 sáng đến Viện Hán Nôm, bác Tưởng kéo vào phòng uống trà, thấy cứ loay hoay loay hoay hết ra lại vào, thì ra kiếm người nhờ mua chai rượu tiếp khách. Vãi, mới bảnh mắt mà đã nốc rượu rồi, mình tối qua thiếu ngủ, uống một ly vào người cứ bồng bềnh tròng trành như đang nằm trên xe vậy, nên mò ra lan can chống cằm vật vờ giương mắt lên nhìn người qua kẻ lại cho đỡ buồn, công nhận Viện có lắm cô nhiều em không những xinh đẹp còn ăn mặc thời trang ghê, không như suy nghĩ của mình về một cái viện nghiên cứu khoa học, ngắm nghía một lúc tỉnh luôn. Xong xuôi hội nghị cả bọn kéo nhau về nhà bác Nguyên chơi (đồng nghiệp bác Tưởng, mới về hưu), có thêm hai vị lạ mặt theo nữa, rồi gọi anh Thắng tới (giờ đặt biệt danh là Thắng “giao thông”). Giới thiệu đôi nét về anh Thắng, nhà lão còn lưu lại nhiều văn bản cổ nên tự học chữ Nôm để tìm xem tiền nhân có tiết lộ về kho của nào không, lên mạng giao lưu tìm hiểu rồi làm quen với bác Dũng, và đây là lần gặp đầu tiên. Lão là dân giao thông xây cầu, suốt chục năm bôn ba xa nhà mới về lại Hà Nội công tác, hơn mình hai tuổi, vẫn xing-gồ, đùa lão thế không có vụ nào như trong bài Chị tôi của Trần Tiến à, lão cười… bí hiểm, ấn tượng nhất là nụ cười “như mùa thu tỏa nắng”, hehe.

Chủ nhà bày biện sẵn món RTC, cả bọn ngồi xếp bằng đánh chén, mình không khoái mồi này nên chỉ chăm chăm xơi độc đĩa nướng vì nướng làm át đi mùi đặc trưng của mồi này. Phân ngôi chủ khách xếp đặt vị trí thế nào mình lại lọt thỏm giữa hai vị lạ mặt kia, hỏi ra thì đều là giảng viên toàn cỡ phó giáo sư tiến sĩ cả, vị ngồi bên phải điềm đạm mực thước, vị ngồi bên trái mới trịch thượng làm sao. Xưa giờ đi ăn nhậu anh em biết ý nên toàn được xẹc-via cho, lần này mình lãnh đủ, lão kia chễm chệ chiếm nguyên một góc bàn khoảnh chiếu ngồi khoanh chân phưỡn bụng liên tục chỉ chén này trỏ đĩa kia gắp món này chấm thứ nọ sai mình gắp vào chén lão, có hai chai rượu rót chai này xong lại bảo đổi chai khác, mặc kệ ai nói chuyện cứ chăm bẵm chén tì tì, lừ lừ nghe anh em nói chuyện, thi thoảng ngẩng đầu chống đũa nhăn mặt nhướng mày khẽ gắt lên cái thằng X Y Z đó thì biết cái quái gì. Thế ông có biết thằng này cũng đang “cú” ông không, có giáo sư tiến sĩ hay tiên sư giáo sĩ tôi cũng cóc quan tâm, mà thôi, “kính lão đắc… vợ”, nhưng nói thật gặp loại nhạc phụ đại nhân như cụ thì con cũng xin kính biếu lại đôi dép, hehe… Bác Tưởng cứ trưa tới giờ là phải ngủ một chút, đã xoa chân tót lên giường rồi mà nhưng đâu có chịu nằm yên, chốc chốc lại ngóc đầu dậy gân cổ lên cãi, rốt cuộc chả ngủ được tí nào. Ngồi tới chiều bác Dũng có cái hẹn nữa, ra bị kẹt xe ngang đoạn Thái Hà, phải 30 phút ngập trong tiếng ồn, bụi bặm và mùi khói khét lẹt mới thấy Huế của ta bình yên đến lạ, khám phá ra hình như Hà Nội đã có truyền thống kẹt xe từ rất lâu rồi, có từ thời cụ Quang Dũng kia, bằng chứng cụ đang loay hoay trong tình cảnh tiến thoái lưỡng nan ấy mà hậm hực cảm tác hai câu thơ “Đường đi không gió lòng sao lạnh/Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong”, lạnh tức là lạnh gáy, sợ thằng ôn con phải gió nào ngứa sừng lạng lách húc phát vào mông, khói bụi thì ngập đến tận đầu, mong sao là mong sớm trở về nhà, haha. Tới gặp hội bọn HNLug chán ngắt nhạt toẹt nên đếch thèm phí lời kể lể, để dành cho những chuyện vui khác.

Sáng 25/11 lên Viện Hán Nôm demo phần mềm từ  điển của bác Dũng, trưa bác Tưởng rủ về nhà, có anh Thắng thư pháp, anh em lại gặp ngay “lão ma đầu” ngày qua lững thững giữa đường, mình chột dạ nghĩ bỏ mẹ rồi, lão í thấy gọi giật lại thì xem như toi cuộc vui, nên ngậm tăm đợi về tới nhà mới kể với bác Tưởng, thì ra bác í cũng thấy rồi, bảo tao cũng lơ luôn, tính lão ấy chẳng ai ưa anh em góp ý nhiều rồi vẫn thế, cứ ăn đẫy uống đủ là cắp đít phắn mặc xác đứa nào ngồi lại. Nhân tiện kể vì sao mình biết bác Tưởng và anh Thắng “thư pháp”, đó là mùa hè năm 2009, Viện Hán Nôm có đợt điền dã vào Huế thu thập tư liệu chụp ảnh rập bia ở các chùa chiền đền miếu lăng tẩm. Gặp bác Tưởng trước tiên, thấy một ông người thấp bé tóc hoa râm mặt đỏ kè kè lừ lừ đi lên cầu thang hỏi thăm anh Dũng, nhìn cái xách đeo bên hông tưởng đâu laptop hoành tráng, té ra trong ấy chỉ có giấy bút và cút rượu trắng. Chiều đó bác Dũng mời vài bác thân quen về Biên Hồ tửu quán, rủ mình theo. Hẹn 5h ở cơ quan, bác Dũng bảo mình đứng đó chờ, ổng về nhà đón bác Tưởng, trời đẹp, mình ra ngồi trước thềm tiền sảnh vơ vẩn ngắm hoàng hôn, lâu sau có hai vị râu tóc xồm xoàm mặc quần ống lửng đi con Wave Tàu xập xệ bay cả yếm kẹp theo chai nước (sau mới biết là rượu mới mua từ ở Phong Chương mang vô) xông vào cơ quan, xuống đi vẩn vơ ngắm nghía mấy hàng cây phiến đá chả nói năng gì, mình nghĩ bụng mấy tay xe ôm nào đây, cũng không hỏi chỉ lẳng lặng theo dõi xem sao. Sau bác Dũng đến thấy mấy bên chào hỏi mới biết là trong đoàn đó, mình ngạc nhiên trầm trọng, vì cứ nghĩ mấy vị “Nho gia” chắc phải đạo mạo nho nhã lắm chứ đâu có hầm hố hom hem như vậy, haha. Về quán, gặp hoàng hôn rất đẹp rơi trên hồ, rượu ngon nhắm tốt ai nấy thập phần cao hứng, anh Thắng múa bút trổ tài viết thư pháp thể chữ Triện, thì ra ổng là nhà thư pháp có tiếng (từ đây đặt biệt danh là Thắng “thư pháp”). Bác Tưởng tức cảnh sinh tình gật gù bảo tao vừa nghĩ ra câu đối, tay nâng chén mồm lè nhè đọc “thủy đắc thủy, sơn đắc sơn” xong cắm mặt xuống bàn ngủ tít, gọi mãi mới chịu dậy lại chả nhớ gì sất, mai mình kể lại với bác Dũng, rồi hai ông ấy mới xướng họa với nhau trọn bộ thế này: “Thủy đắc thủy, sơn đắc sơn, kỷ độ tang thương tồn thắng tích/Thi tri thi, tửu tri tửu, hà kỳ hải giác đối tri âm”.

Trở lại buổi trưa đó, mình hỏi quan điểm bác Thắng về thư pháp Việt hiện nay, bác ấy bảo ngay bản thân hệ chữ Latin cũng đã có sẵn rồi, đơn giản ngay như chữ nghiêng chữ đậm và các bộ font trong máy tính, nên không nhất thiết phải viết chữ Việt theo lối Tàu. Mới nhớ hồi năm lớp 2 lớp 3 có ông chú tặng cho quyển Chữ Đẹp, trong đó có rất nhiều mẫu chữ độc đáo, chẳng hạn có mẫu nét chữ như những khúc gỗ còn nguyên lớp vỏ sần sùi được cột lại với nhau bằng dây thừng có hoa leo quấn quýt. Mấy vị đàm đạo đã đời rồi nổi hứng trải giấy dó ra viết chữ, mình được bác Thanh viết tặng một bức bốn chữ 草 滿 花 香, còn bác Tưởng tặng cho cái la bàn to đùng xem theo bát quái đồ có đủ bốn phương tám hướng sáu mươi tư quẻ, nhìn vào trùng trùng điệp điệp mắt hoa đầu váng (cái này bác í dùng để dịch gia phả). Đến chiều bác Thanh (hơn mình 7 tuổi nhưng trông phương phi đạo mạo lắm, cũng xing-gồ nốt, Việt kiều Pháp, chuyên gia Hán Nôm, có nickname Khúc Thần – tức Thần Men) rủ đi vía chùa Bà gì đấy, người đông như kiến cỏ, vào trong khói hương mờ mịt người chật như nêm xì xụp khấn vái. Cả bọn tên nào tên nấy mặt mày hồng hào chẳng kém mấy pho tượng hộ pháp, không đi cầu khấn xin xỏ gì chắp tay sau lưng lững thững dạo quanh ngắm nghía, đến khi ra không ngờ bác Tưởng mất toi đôi dép (phải cởi bỏ giày dép bên ngoài đại điện), kỳ cục, vào chốn linh thiêng ai dám trộm cắp, vả lại cả đống không ít thứ đắt tiền, sao lại mất đôi dép cóc cáy (từ này mới biết thêm khi đọc Ăn mày dĩ vãng, thiết nghĩ không còn từ nào mô tả chính xác hơn) của mỗi bác ấy, thế là bác ta chân không lệt bệt tới ngồi ủ rũ dưới một gốc cây sứ (trông mới nhang nhác… Hồng Thất Công lão bang chủ làm sao), bác Thanh đi tìm mua cho đôi dép khác. Lễ chùa về thấy tâm hồn phơi phới nhẹ nhàng lo âu biến đâu hết sạch, thanh thản kéo nhau vào một quán vịt Vân Đình nháp trước. Ngồi làm một chập rồi về nghỉ ngơi sáng mai còn đi chùa Hương sớm. Sáng đi bác Minh (cũng dân Huế, giám đốc chi nhánh Cty) có dặn bảo tối anh em gặp nhau lai rai chút, nên khi bác Dũng rủ ăn gì rồi về mình bảo thôi có hẹn anh Minh rồi, nên chỉ mua gói hạt dẻ nướng rồi chạy về cho kịp, ai dè ông Minh chờ lâu đi nhậu đâu mất tiêu, đi cả ngày mệt, hơi đói nhưng lười đi lại nên mình lăn ra ngủ, bác Dũng còn thức xem bóng đá tới gần sáng.

26/11 theo lịch đi xứ Đoài thăm chùa Hương, mình dậy 7h, tắm táp tỉnh táo xong xuôi, nhớ mang máng là xe tới đón, nên cứ để bác Dũng nằm thêm tí, 7h30 mấy vị gọi í ới bảo hẹn ở nhà bác Tưởng sao giờ vẫn chưa tới, mới sực nhớ ra vội vàng ba chân bốn cẳng phóng đi, mất hơn 20 phút mới tới nơi, mọi người đã tập trung đông đủ ngồi chờ, tới trễ ngại ghê (thành phần chuyến đi có bác Nguyên, bác Thanh, anh Thắng “thư pháp”, anh Thắng “giao thông”, bác Tài và bác Kiện lái xe bạn anh Thắng “giao thông”, hai huynh đệ mình, tổng cộng tám nhân). Dự định đi chùa Hương xong 7h tối lên xe cút về cố hương luôn để có được ngày Chủ nhật nghỉ ngơi thoải mái nhưng mấy vị bảo không kịp, bây giờ đi cũng hơi muộn rồi, phải đi gấp kẻo tới giờ cáp treo nghỉ trưa không chạy, sớm nhất cũng 5h chiều mới về tới Hà Nội là phải cắt món vịt cỏ Vân Đình, lần đi lần khó, thì chơi luôn cho thống khoái, thêm một hôm nhằm nhò gì…

Hà Tây đây rồi, đến miền đất này cứ bâng khuâng vấn vương hoài những vần thơ của thi sĩ Quang Dũng, mải miết nhìn cánh đồng trải rộng mênh mông, ngôi đình cổ kính âm u mái ngói xỉn màu thời gian bên con đường làng nép dưới mấy tán gạo cổ thụ, tiếc đã qua mùa hoa gạo rồi, trong Huế đình làng ít hơn bởi chiến tranh tàn phá nhiều, nhất là ở phía Nam thành phố, phần nhiều toàn xây lại cả. Bác Thắng “giao thông” đã hẹn trước em Huyền hướng dẫn viên du lịch đợi sẵn ở thị trấn Vân Đình dẫn đoàn đi, lâu rồi mới thấy tóc dài tung bay trong gió, suốt một quãng đường dài chẳng có mấy ai thèm đội mũ bảo hiểm cả, thoải mái làm sao. Con đường men theo sông Đáy, dòng sông không thơ mộng như trong thi ca, gặp mùa nước cạn đôi chỗ khá hẹp, chỗ trơ bãi chỗ um tùm mấy khóm lau lách dứa dại, ám ảnh nhớ những chiều buồn chếnh choáng men say, “Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa/Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ/Thoáng hiện em về trong đáy cốc/Nói cười như chuyện một đêm mơ”.

Bến Yến

Đến bến Yến, thuyền ở đây khá lạ, làm bằng sắt, đáy bằng, gắn sẵn ba dãy sáu chiếc ghế nhựa theo hàng ngang, đặc biệt chỉ toàn phụ nữ chèo, mình không thấy áo phao nên cũng chờn chợn. Cả đoàn chia làm hai thuyền, cười đùa qua lại thật vui, bởi chỉ có mỗi một em… đẹp gái nhất nên mấy người xúm vào chọc, tán gái có duyên nhất là bác Tài bác sĩ, em Huyền đỏ mặt bảo em ứ thèm nói chuyện với anh nữa đâu rồi ngúng nguẩy quay đi, gió ngược làm vài sợi tóc cô nàng tung bay bâng quơ vương vào má bác Tài, bác í có vẻ nhột nhưng vẫn cố trân mình giữ nguyên tư thế hỉnh mũi hít hà mùi hương tóc, thật là “Hồn khách vương qua vài sợi tóc/Tôi thương mà em đâu có hay”.

Thuyền ghé đền Trình

Cây “xì tràng”, có những khoảng rừng um tùm rất đẹp


Từ trái sang: bác Thắng “thư pháp”, bác Thắng “giao thông”, bác Dũng và bác Nguyên. Hai bác Thắng đang phiêu diêu với Dòng sông quê anh dòng sông quê em

Bác Thanh, tại hạ, bác Tài, bác Kiện và em Huyền

Thuyền dọc theo dòng suối Yến (gọi là suối nhưng rộng chẳng khác gì sông, rộng hơn cả mấy đoạn sông Đáy), trước tiên ghé vào thăm đền Trình, hai bên suối có loài cây gì rất lạ, hỏi bác lái đò bảo tên “xì tràng”, mình cẩn thận bảo đọc từng chữ cái, nhưng rõ là tên địa phương vì sau về tra Gúc chẳng thấy, loài cây này cành khẳng khiu trơ trụi, lá nhỏ và mảnh có màu nõn chuối, xa xa cả một vạt rừng xanh ngời hoài niệm như trong các bức tranh phong cảnh thiên nhiên nước Nga của Levintan. Hôm đó là một ngày thật đẹp hiếm hoi trong năm, chính em hướng dẫn viên và bác lái đò bảo thế, trời dim mát mẻ quang đãng chứ không nắng đến nẻ đầu hay sương mù mịt như nhiều hôm khác, cũng chẳng gặp ngày lễ hội ồn ào náo nhiệt nên bầu không khí thật yên tĩnh, chỉ có tiếng mái chèo lõm bõm khua nước lan trên mặt sông, bác Thắng “giao thông” ngân nga vài bài quan họ, bác Thắng “thư pháp” phiêu diêu mấy điệu chầu văn, rồi cao giọng hát “Dòng sông Đáy quê em sông trăng hay sông lụa, nong kén vàng như lúa tròn vạnh một góc trời”, lời ca vang vọng cả một khúc sông tĩnh mịch, riêng mình thầm hát Lạc mất mùa Xuân, nhạc sĩ Lữ Liên đã thấm trọn hồn bài thơ Đôi bờ khi đặt lời Việt mới dựa trên nền nhạc ca khúc Le géant de papier, “Ngồi suốt canh vắng lãng quên sầu thương trong men đắng, cơn say mê đắm sóng dâng cao ngọn thủy triều, rồi thấy thấp thoáng bóng em về chìm trong đáy cốc, đôi mắt u buồn thiên thu…”.

Từ trái sang: bác Thắng “thư pháp”, bác Thanh, bác Nguyên, bác Kiện, bác Tài, tại hạ và em Huyền lên chùa Hương. Đang “nổ” với em Huyền về vẻ đẹp xứ Huế

Thuyền đến bến chùa Hương, tới nhà ga Thiên Trù đi cáp treo lên động Hương Tích, đường cáp ngắn chỉ mất độ 10 phút, đi qua đỉnh núi mây vờn những rừng cây thâm u có phần thú vị hơn so với Đà Lạt chủ yếu băng trên ngọn thông và những mảnh đồi trồng rau quả xanh mướt mát, phảng phất sương khói tỏa ra trên triền núi đá, phải chăng ẩn sau màn khói sương lãng đãng ấy là lối vào Thiên Thai cốc nơi các vị tiên nhân cư ngụ. Xuống động Hương Tích, mấy trăm bậc thang lát bằng những phiến đá tảng được mưa gió thời gian và bước chân người mài nhẵn bóng tạo cảm giác trơn tuột, căng thẳng lò dò xuống lo trượt chân lăn đùng một mạch thì khốn. Xứng danh Nam thiên đệ nhất động như mấy vần tuyệt bút của Chu Mạnh Trinh ca ngợi “Nhác trông lên ai khéo họa hình/Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt/Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt/Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây”. Tới đâu có văn bia mấy bác kia cũng xúm lại xem xét tranh luận chữ này chữ nọ, mình với bác Tài, bác Kiện và em Huyền bỗng dưng hóa thành bốn kẻ lơ ngơ “mù chữ” tụm lại với nhau. Vào trong lung linh đèn nhang lấp lánh vàng mã, thiên hạ lạy lục cúc bái thành kính, theo thiển ý tại hạ, tín ngưỡng ngoài này khác trong Huế, sắm sanh lễ lạt hậu hĩnh hào nhoáng hơn, có vẻ chú trọng cầu tài lộc nhiều hơn, đền chùa Huế thường ở những vùng vắng vẻ trầm mặc, người đến đó không hẳn cầu an mà chỉ giản dị là vãng cảnh hay tìm một chốn an trú tâm hồn, thế thôi.

Đoạn về đã thấm mệt, sáng đi chưa kịp ăn gì, vậy mà cũng chinh chiến tới bến. Bụng rỗng sôi òng ọc đói hoa cả mắt, cứ tưởng xơi được cả voi vậy mà mới làm có mấy miếng đã no, cũng do quá bữa, có canh rau sắng, thấy nó từa tựa rau ngót, nhưng rau ngót có vẻ ngọt nước hơn, hay do tô canh nấu loãng nhách. Tùy thổ sản vùng miền mà có những món thích hợp, miền Bắc nấu canh chua thường dùng trái sấu, nấu riêu cua với rau đay, mình không thích vị sấu nấu canh chua luộc rau muống mà cứ gì cũng phải vắt vài giọt chanh vào, canh riêu cua thì lá mồng tơi bồ ngót dường như ngon hơn, có lẽ một phần cũng do quen khẩu vị, nhưng riêng canh chua thì lá giang vẫn ngon nhất, nhưng từ Quảng Nam trở vào mới hay dùng lá giang, còn ở Huế vẫn nấu bằng lá chua me đất, không ngon bằng.

Dọc hai bên bờ suối có rất nhiều vùng hoa súng đủ các màu sắc như thế này

Lên thuyền, khi đi ven suối đầy hoa súng nở, có nhiều màu hồng trắng tím, buổi sáng nở bung đón chào khách thập phương vãng cảnh, chiều về đã khép cánh thiêm thiếp ngủ, “Chiều ấy em về thương nhớ ai/Tôi chắc đường đi đã rất dài/Tim tím chiều hôm lên bóng núi/Dọc đường mờ những cánh hoa phai”. Bác Thắng “thư pháp” kể sự tích một ngọn núi ở xứ Thanh, câu chuyện này ai ai cũng biết rồi chỉ có một vài chi tiết được được các nhà “sử học” tân thời khám phá và chỉnh lý, ngày xửa ngày xưa khi giặc Ân sang xâm chiếm nước ta, thánh Gióng khi ấy mới lên ba vẫn chưa biết nói biết cười, bà mẹ đang lo ngay ngáy thằng con mình mắc bệnh tự kỷ, bỗng ông cất lời bảo mẹ mời sứ giả vào, nhờ nhắn lại với vua rằng đúc cho ta một cái roi sắt, một con ngựa sắt và một cái… bỉm sắt. Sau đó thánh Gióng vùng dậy vươn vai trở thành một tráng sĩ đuổi diệt quân giặc, ông ham đánh đến nỗi gãy cả roi sắt rơi cả bỉm, chiếc bỉm rơi xuống hóa thành ngọn núi, có tên gọi là Bỉm Sơn bây giờ, ông xấu hổ nghĩ mình là bậc anh hùng mà trần trụi trở về như vậy trông thật khó coi bèn thăng thiên trốn mất, và đó chính là nơi người Việt Nam đầu tiên bay vào bầu trời – sân bay Nội Bài. Rồi chuyện Lê Lợi trong lúc cưỡi thuyền đi dạo trên hồ Tả Vọng, chợt thấy một con rùa lớn nhô đầu lên lim dim phơi nắng vẻ rất phởn, Lê Lợi mừng rỡ nghĩ bụng a ha có mồi nhậu rồi liền xuất kỳ bất ý rút kiếm sử chiêu “kiếm trảm quy đầu” thịt con rùa, không ngờ con rùa này tu luyện thành tinh võ công hơi bị siêu, nghe kiếm phong rít lên liền xoay mình né sang bên giở luôn chiêu “quy đầu đoạt kiếm” dùng răng cắn vào sống kiếm, Lê Lợi hổ khẩu tê chồn bất thần buông tay, thế là rùa ta một chiêu đắc thủ tước được vũ khí đối phương, liếc thấy thanh kiếm mạ vàng nạm ngọc biết là hàng quý giá cao bèn nổi lòng tham cướp luôn lặn xuống đáy hồ mất tăm, Lê Lợi chỉ còn biết nhìn theo dậm chân than trời vì tiếc, hồ Tả Vọng có tên hồ Hoàn Kiếm từ đó (tui chỉ dựa theo cốt truyện, bớt vài tình tiết thêm chút gia vị, mọi người hôm đó có thấy khác câu chuyện kể thì đừng bắt bẻ nghe).

Tới bến, lưu luyến chia tay em Huyền, luôn đường tiện ghé thăm nhà bác Thắng “giao thông”, trời đã xâm xẩm tối, ánh hoàng hôn le lói khuất dần sau dãy núi xa, xe lướt nhanh trên con đường quê, thấp thoáng trong làng tháp chuông nhà thờ xám buồn, vài ngôi mộ chơ vơ giữa cánh đồng, tàn nhang đỏ lừ lập lòe, phải chăng là những linh hồn chưa siêu thoát còn vương vấn tình trần vất vưởng phiêu diêu trên cánh đồng hiu quạnh – “Màu tím chiều chầm chậm/Hoàng hôn nghe một mình/Giáo đường chuông rời rạc/Tan vỡ nhiều âm thanh/Một chút linh hồn nhỏ/Đi về chân núi xanh”.

Vào nhà bác Thắng một lát, ở làng Nghi Lộc huyện Ứng Hòa, nhà cũng là một thiện đàn, nếu có thời gian ở lại đến tối sẽ được chứng kiến làm thơ giáng bút, đủ loại thể thơ bằng chữ Hán chữ Nôm chữ quốc ngữ tiên đoán việc tương lai, có cây bút bằng gỗ đào và tấm nhiễu đỏ xếp trên một chiếc mâm đồng sáng loáng, người ngồi đồng dùng cây bút ấy viết “gió” lên chiếc mâm, một người nhận tự ngồi bên đọc chữ ấy lên và một người khác chép lại, lại có cả thơ giáng bút của Hồ Chí Minh nữa, nhưng độ chính xác thế nào và những chuyện tâm linh thần bí không biết nên không bàn đến ở đây. Xong về lại thị trấn Vân Đình, bác Thắng đã nhờ ông bạn thân “thổ địa” chuẩn bị tiệc từ đầu giờ chiều, về muộn nên dọc đường ông kia cứ gọi í ới suốt hỏi về ngang đâu rồi, dù chưa biết mặt nhưng gặp một lão cổ dài ngoẵng như cổ cò là đoán ra ngay, công nhận lão này nhiệt tình ghê. Em Huyền cũng gọi lại bác Thắng “giao thông”, bảo từ trước đến nay em đi rất nhiều nhưng chưa có đoàn khách nào vui như thế này, quả đúng vậy, nhóm này không phải hành hương lễ Phật mà có tới mấy nhà nghiên cứu, đến đâu cũng “săm soi”, từ một chữ có thể suy ra cả một điển tích một giai đoạn lịch sử, qua đó biết thêm nhiều điều mới lạ.

Quán đặc sản vịt cỏ Vân Đình, mới đầu dọn ra mỗi người một chén tiết canh, mình đánh bạo ăn thử, tuy ăn nhưng phải… nhắm mắt bỏ mồm kẻo… sợ, tiết canh ngoài Bắc khác Huế, đông đặc như chả trứng dễ ăn hơn chứ còn loãng loãng ghê bỏ mẹ, nhưng gia vị kèm theo chả có gì, mỗi lạc rang rắc lên với vài cọng ngò tây, ở Huế có bánh tráng giá chua rau sống đủ loại rồi gừng tỏi nữa. Sau đó có món vịt nấu sấu, ăn ngon mềm, thịt cá gì nấu với đồ chua cũng mềm ra dễ ăn, nhưng mình vẫn thích nấu với lá giang hơn, nước sấu có vị lành lạnh tanh tanh của kim loại, vị khi như dùng dao thép (không phải inox) cắt trái cây, có lẽ do có phản ứng hóa học gì đấy nên mới sinh cái vị đó. Vác từ Huế ra một can 5 lít Thủy Dương hảo tửu, ai nấy tấm tắc khen ngon, bụng đã no nê, tửu hứng dào dạt, bác Thắng “giao thông” đọc bài Văn tế Hà Tây nghe đâu do một thầy giáo cấp 3 Hà Tây sáng tác, ý nuối tiếc một vùng quê đậm đà truyền thống văn hóa lâu đời, bác Thắng “thư pháp” hát bài về chùa Hương do bác í phổ nhạc, rồi hát tặng hai anh em Huế vài bài xứ Huế, mình sau vụ bể dĩa với mấy quý vị Chăm Thái nên đã chú tâm học thuộc bài Lý mười thương “đặc sản” của giọng nói ngọt ngào và văn hóa Huế, vậy mà lúc đó tự nhiên quên tiệt, khi cần nhớ lại chẳng chịu nhớ cho, đành đánh trống lảng chuyển đề tài, nhắc câu thơ “Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm”, bảo bây giờ xứ Đoài chỉ còn bảng lảng trong khói sương ký ức mà thôi, không khí bỗng dưng trầm xuống, thoáng chút tiếc nhớ ngậm ngùi trong mắt những người con xứ Đoài, “Khói thuốc chiều sông hỡi dáng người/Phương nào đôi mắt ngó xa xôi/Nào ai biết được niềm u ẩn/Từng lắng nhiều trong những mảnh đời”, đôi mắt u uẩn chiều luân lạc đau đáu nỗi sầu viễn xứ ngay trên mảnh đất quê hương của mình.

Sân đền Quán Thánh

Hà Nội cuối Thu, lá vàng rơi nhiều lắm, lả tả đầy đường. Sáng Chủ nhật 27/11 ngồi quán café trên hè đường Thanh Niên bên cạnh đền Quán Thánh, cây cổ thụ trong đền hững hờ trút lá, rơi xuống bàn, cả lên đầu lên vai… Bác Dũng mải mê đọc báo, còn mình vẩn vơ đếm, một lá… hai lá… ba lá… Thỉnh thoảng bác Dũng hỏi đôi câu làm mình phải gõ trả lời, quên bẵng đã đếm tới bao nhiêu đành đếm lại, một chiếc… hai chiếc… ba chiếc… Dòng người nườm nượp vui tươi qua lại, nào ai hay lá vàng cứ âm thầm rơi rơi trên lối cũ, mỗi chiếc lá rơi lại có một nỗi nhớ nương theo mây ngàn bay đi… Mình rủ bác Dũng tìm nhà nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – người nhạc sĩ tài hoa mình vô cùng mến mộ, ông hoàng của mùa Thu Hà Nội – từng sinh sống, của hãng nước mắm Vạn Vân vang danh xứ Bắc một thời. Hai anh em đến đường Cao Bá Quát rẽ vào, không ngờ vào đường một chiều, vừa đi vừa nơm nớp sợ tuýt còi, căn nhà người nhạc sĩ tài hoa mang số 9, nhưng có tới hai căn nhà số 9. Ngôi nhà số 9B trông kiểu cổ kính, có căn gác với màu vôi vàng ệch đã phôi pha qua bao thăng trầm của một thời biến động, chắc hẳn đây rồi. Đường phố chật hẹp, bán buôn đông đúc, bảng hiệu quảng cáo giăng đầy, khó mà tìm góc chụp hình đẹp, đối diện căn nhà có một quán café, mụ chủ trắng trẻo phốp pháp (quái lạ, “ăn gì to lớn đẫy đà làm sao?”) đang lui cui đốt giấy tiền, sợ bị “hui” (đốt giấy xua điều xui xẻo) nên chẳng dám sang đứng đó, tần ngần một hồi trước ngôi nhà ấy trong ánh mắt dò hỏi của những người xung quanh… (họ ngạc nhiên cũng phải, tự dưng có hai tên nào nghênh ngang chạy đường ngược chiều tới đậu cái rụp ngay trước nhà, xì xà xì xồ chỉ trỏ ra hiệu với nhau, coi điệu bộ rất chi là khả nghi).

Qua khung cửa sổ màu xanh kia, nơi đêm đêm vọng ra tiếng hạ uy cầm làm bao mùa thu Hà Nội xuyến xao, bao trái tim người yêu nhạc thổn thức, có một người đã trải bao nhiêu mùa mưa rơi lá đổ, bao nhiêu sớm bồi hồi ngẩng trông mây bay về cuối trời, bao nhiêu chiều trút lá vàng phai, bao nhiêu đêm nghe lá thu xào xạc trên hè phố mà lòng rộn ràng ngỡ bước chân ai trở về… Có một người dồn hết tình yêu của mình vào lá thư xanh màu ân ái gửi đến người em gái miền Nam, “Lòng anh như giấy trắng thanh tân ép hoa tàn, thời gian vẫn giữ nét yêu đương nơi hoa vàng, dìu lòng đàn dẫn phím ý thơ trào dâng viết gửi về em…”, dù lá thu còn lại đôi ba cánh vẫn không đành lòng mặc cho nước cuốn hoa trôi, dẫu một mai có lìa cành vẫn mãi nhớ cánh hoa ngày xưa ấy…

Bác Thắng “giao thông” hẹn tới một tửu quán làm bữa tiễn hành, có thêm bác Tài và một tiểu đệ đồng nghiệp cũ của mình, sau có bác Thanh ghé nữa. Tất cả món cá ngoài này đều có mấy cọng rau thì là lăn tăn li ti, trong Huế lại không chuộng thứ rau này, nhâm nhi rượu táo Mèo, loại này mùi thơm hơi ngọt uống khá ngon, biết bác Dũng thích bác Thắng “giao thông” liền mua tặng ngay 5 lít mang về, chuyến đi đã “được ăn, được nói”, lại còn “được gói mang về”, quá sướng, hehe. Có tửu hứng rồi thì cũng thêm tí văn nghệ chứ, bác Dũng làm luôn mấy bài thơ kể về chuyến đi (xem chùm thơ Bắc Hà du ký thi), bác Thắng “giao thông” từng khoe chơi được bảy loại nhạc cụ nên mình có ý muốn nghe thử xem sao, liền hỏi tiểu nhị có cây guitar mang ra cho mượn, nó bảo bị đứt hết dây rồi, liền nài nỉ nó đi mua luôn bộ 6 dây vào đây rồi để anh đấu vào cho. Đợi khi nó mang vào cây đàn lại kèm thêm cây kềm làm mình suýt té ngửa, thì mấy khóa lên dây đàn gãy sạch trơn hết, mình tỉ mỉ bặm môi chỉnh chuẩn dây 1 để rồi từ đó dò dần lên, loay hoay mãi vẫn không lấy được dây 2, đã gãy khóa lại còn cháy hết cả gai, trơn tuột không cách nào vặn được, sau một hồi hì hục đến toát mồ hôi đành tiếc nuối bó tay xin hàng, tức không chịu được. Hát chay không có đàn đệm cứ như bị ăn nhạt hay thiếu ớt, chán phèo…

3h chiều anh Minh gọi điện nhắc hai huynh đệ về dọn đồ đạc, ảnh đã mua vé sẵn rồi, 4h ra điểm tập kết lên xe về Huế. Lão Dũng cứ đủng đỉnh dềnh dàng trong khi thiên hạ xông lên ào ào, sau hỏi lão mới bảo cố ý lên trễ để nằm giường cuối xe cho… thoải mái, bó tay (kể tiếp cái “chuyện kể sau” đã nói ở phần đầu, là lần này vé về của hai tên vẫn là vé hạng nhất giường đầu xe, rứa có bưa không?). Chỉ còn mỗi hai chỗ trống, có một khu vực ba giường sát nhau cuối xe, đã có hai bà sồn sồn áo quần là lượt nước hoa thơm lừng ngự đó rồi, để lão Dũng vào chỗ đó là “trúng” luôn, hehe, nhưng khốn nỗi mình ngại trèo giường tầng nhỡ ngủ say rơi bịch xuống chết dở, nên đành chịu khó nằm cạnh mấy “mệ” vậy, tuổi mình lương ương dở ông dở thằng, mấy mệ chẳng có gì phải ngại ngần nên tha hồ tám với nhau điếc tai nhức óc đủ thứ chuyện, rồi cả chuyện kén hiền tế cho quý nữ, thỉnh thoảng quay sang hỏi dì nói rứa đúng không con, đành ậm ừ cho qua chuyện xong giả vờ ngủ. Mình có ý nhân còn lâng lâng lên xe đánh một giấc tới sáng, vậy mà chẳng thể nào ngủ được, lòng âm thầm cảm ơn trời phật may mắn thay không phải gọi một trong hai mệ là nhạc mẫu đại nhân, nhưng được gọi cả hai mệ cùng lúc thì có khi lại là… “song hỷ lâm môn” cũng chưa chừng, héhé, tới khuya khi mấy mệ tạm ngừng chương trình phát thanh thì lúc ấy cũng tan hơi rượu tỉnh queo, thế là cứ chập chờn mãi đến sáng. Xe đỗ bến đúng 6h, về nhà tắm gội tỉnh táo đâu đấy xong bác Dũng sang đón đi làm luôn, đúng 7h sáng đầu tuần có mặt tại cơ quan, người vẫn còn bềnh bồng…

Hai huynh đệ, tại hạ trông nhăn nhở nhưng không phải cười, vì… bụng rỗng

Vài dòng nhăng nhít kể lại chuyến đi của của hai huynh đệ người lãng tử kẻ tài hoa (bác Tài coi tướng bảo thế, “ông tài hoa, nhưng cẩn thận kẻo đôi khi mắc vạ miệng”, đèo thêm cái chữ “nhưng” mới cụt hứng ác, ai không tin đi mà hỏi bác í). Nhưng mà… “lãng tử”, với nghĩa của “lãng” như… lãng tai, ý không thèm nghe tiếng đời thị phi. Còn “tài hoa”, thực ra chỉ là tài… ba hoa chích chòe thôi, hahaha…

Cảm ơn tất cả các huynh đệ về chuyến đi đầy thú vị này, hẹn ngày gặp lại!

NTMã

Advertisements

Read Full Post »

Hai tháng trước, theo kế hoạch, đề tài khoa học của Fan huynh tổ chức một cuộc hội thảo CNTT về chữ Thái, chữ Chăm, mời các chuyên gia ngôn ngữ dân tộc Thái, Chăm về Huế tham dự. Từ mấy hôm trước Fan huynh đã dặn mình gọi về đặt hàng Biên Hồ tửu, phải chiêu đãi các vị khách ở xa thứ rượu được chọn làm “hội tửu” của Ô Khâu thi xã. Mình chả liên quan gì, nhưng cứ hễ Fan huynh có vụ nào là cũng được dự phần, bác í kéo theo để có người tán dóc với quan khách cho vui chứ bút đàm hoài người ta cũng mỏi tay chớ bộ.

12/10 – Sáng đó lên canteen gặp mấy vị khách, bác Sầm Văn Bình (người Thái, Nghệ An), trông khắc khổ chất phác như một lão nông, hỏi chuyện mới biết ngày xưa từng tốt nghiệp ĐH Hàng hải Hải Phòng, ra trường không xin được việc nên về quê treo bằng cày ruộng mấy chục năm rồi; có một cô bé da ngăm ngăm nét hoang dã áo sơmi quần jean dáng chắc lẳn có cái tên là lạ là Châu Nữ Nha Trang (viết đúng theo tiếng Chăm là Ya Trang), mình tò mò hỏi em sinh ra ở Nha Trang à, té ra mình là người thứ mấy trăm cũng hỏi y chang một câu đó; rồi một anh chàng đen thui râu ria xồm xoàm vàng quạch như râu ngô tóc búi tó trông phong trần trong trang phục dân tộc Chăm màu gạch những ngôi tháp cổ, lủng lẳng dải khăn thêu họa tiết lạ mắt, mới đầu tưởng lớn tuổi hơn mình, sau một hồi chuyện trò mới biết cu cậu còn trẻ chán, khoái hắn dùng cái thìa inox thay cho cây trâm cài tóc, hai cô cậu này người Chăm, từ Sài Gòn ra, anh chàng tên Phú Tuệ Năng (từ giờ gọi là Jaka cho gọn).

Suốt chiều mấy vị họp hành, xong cuối buổi tập trung dưới tiền sảnh đi Hòa Hạnh dzê quán (chuyên món dê), Jaka thấy mình lò dò xuống liền tới bắt tay bảo em thích bài Tửu sắc nhàn đàm trên blog Ô Khâu (Fan huynh quẳng cáo), khà khà, đệ thích bài đó vậy là cùng hệ tửu đồ lãng tử với các huynh rồi, lát nữa ta cùng chuốc chén. Tối ấy quán đón một đoàn khách khá đặc biệt, cô Lò Mai Cương (người Thái, Sơn La) trong trang phục truyền thống, đầu đội khăn màu xanh mặc váy hoa trông thật nền nã, Jaka thì “bụi phủi” tay nâng vò hảo tửu ngực lủng lẳng chiếc máy ảnh to đùng lừ lừ đi vào. Trời mát, rượu ngon nhắm tốt nên mọi người rất là cao hứng, phía cơ quan có Fan huynh là chủ nhiệm đề tài, Bọ Hung tiểu muội là thư ký, chưa bao giờ thấy Bọ Hung uống rượu nhưng tối ấy nó cũng nâng lên đặt xuống mấy lần liền, má ửng hồng mắt long lanh, công bằng mà nói nhìn coi…  khá hơn ngày thường một chút, hehe… Gọi mấy đĩa tiết canh mấy vị xơi ngon lành, cả con gái cũng chơi được láng, mỗi mình nhìn vừa sợ vừa… thèm, đành nốc rượu suông cho đỡ… tức vậy.

Các vị sau khi đã ấm bụng, qua vài tuần rượu hưng phấn liền quay sang chúc tụng nhau, kể cũng lạ, phong tục ngoài kia cứ uống xong một ly là bắt tay một cái, chục ly là chục lần bắt tay. Phụ nữ Thái uống rượu giỏi, lần đầu gặp mới biết, cô Cương tửu lượng hơi bị ghê, mình bị liên tiếp vài ly mặt bừng bừng chếnh choáng. Còn biết thêm một tục, tiếng Thái gọi là “báng lẩu” (báng là xen giữa, lẩu là rượu), hai người ngồi hai bên mời rượu nhau, nếu có một người ngồi giữa thì người ấy cũng được mời luôn, qua sông phải lụy đò mà, nhưng chỉ cách qua một người thôi, còn cụng cách bàn thì không tính (sau này mới biết cũng có tiếng lóng gọi là “xoang đạn”, nghĩa là hai phe bắn nhau tơi bời, thằng lơ ngơ đứng giữa chẳng theo phe nào cả tự nhiên dính đạn lạc chết oan), thế là em kính bác cháu mời cô bác chúc chú tưng bừng…

Lần thứ hai về Thanh Nhung kê quán (chuyên món gà chân quê), quán này nằm tuốt trong làng cạnh đồng lúa, chỉ có dân bản địa mới biết chứ khách vãng lai thì bó chân, tên Cường “lốp” lái xe nhăn nhó bảo mấy bác sao biết mà mò vào tận chốn này, xe chui vào đường làng cũng hơi chật chội.

Vẫn là Biên Hồ hảo tửu, Jaka tửu hứng nổi máu văn nghệ, khởi xướng với bài dân ca Chăm có tựa đề là Chim, sự việc lâu rồi mà giờ mới kể lại nên chỉ nhớ mang máng nội dung về tình yêu đôi lứa thì phải, tiếp theo bác Cà Văn Chung (người Thái, Sơn La) hát bài dân ca Thái về mùa Xuân, tới phiên cô Cương nhất định không chịu hát, bảo để dành khách ra thăm ngoài kia sẽ chiêu đãi đặc biệt món múa xòe (chắc hẳn điệu múa lả lướt như tơ trời người múa yểu điệu tựa hoa rơi mà nhớ người con gái nước Sở trong câu “Lạc phách giang hồ tái tửu hành/Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh“). Bác Bình đọc một bài cúng của thầy mo, nhưng trước tiên cẩn thận khấn vái tổ tiên xin phép rồi mới dám đọc. Ngạc nhiên nhất là Fan huynh, hăng hái khoa chân múa tay biểu diễn một bài ca trù do chính lão sáng tác, nghe xì xồ như như Tây vậy, nhưng rất chi là biểu cảm, cặp lông mày nhăn tít đôi mắt bắn hỏa quang (phản chiếu từ điếu thuốc ai đó?)… toàn khán giả vỗ tay kịch liệt và nhất trí điểm cao nhất cho phong cách biểu diễn, rồi đến em Nha Trang hát một bản tình ca Chăm; nói chung, dân ca Chăm nhẹ nhàng man mác buồn, còn dân ca Thái thì vui tươi rộn ràng hơn. Cuối cùng mọi người đề nghị đội Huế tặng lại khách một bài, gợi ý là bài Huế thương, người ta nhiệt tình vậy anh em mình cũng phải đáp lễ chớ, liền chụm đầu hội ý ba thằng, Cường “lốp” bảo em giỏi đánh lộn hơn là hát hò, thế dẹp mày đi, hỏi Đuôi Lươn có thuộc bài đó không, nó bảo chỉ nhớ sơ sơ. Chán gớm, bèn vỗ tay lên trán khởi động tác vụ truy xuất cái bộ nhớ đã bắt đầu lão hóa, sau một hồi chạy hết công suất mới phát hiện ra rằng hình như mình đếch thuộc trọn một bài nhạc Huế nào, thôi thì hai thằng “song cổ hợp ca” bổ khuyết cho nhau vậy, anh bắt vào trước nhá, thế là tự tin ưỡn ngực hắng giọng, hít một hơi chân khí ém tận đan điền rồi hùng hồn cất giọng hát ồm ồm át hẳn tiếng mấy con ễnh ương đang ộp oạp ngoài bờ ruộng kia, ca vài câu sắp “cụt vốn” liền nháy mắt ra hiệu Đuôi Lươn “giải cứu”, khỉ thật, thằng này quay mặt giả lơ im thin thít, thôi chết ta rồi, vậy là vòng vo chắp nhặt vài lời cũ nối vào một số câu bất chợt nhớ ra ngân nga luyến láy mà lấp liếm lướt qua, thế rồi cũng xong, nhìn quanh thấy chẳng ai cười chê gì, lại còn kiếm được một tràng vỗ tay an ủi, hehe (nghĩ lại “dị” quá đi, mình dân Huế mà chẳng thuộc bài nào của Huế, sau về tích cực học thuộc bài Lý mười thương, sẽ kể trong một entry khác). Tàn cuộc thấy mấy vị còn cao hứng liền kéo về bác Thiện bảo vệ cơ quan ngồi đàn hát thêm chặp nữa mới chịu thôi.

Sáng Chủ nhật, Fan huynh nhận giải thưởng Balaban, theo kế hoạch thì thứ Bảy xong hội nghị rồi nhưng mọi người nán lại dự giải cho vui. Hôm đó chẳng được “thiên thời”, mưa trắng trời như thác đổ, khách quan đi dự giải mà cứ như đi cày ruộng, lùng thùng trong áo mưa quần xắn cao quá gối đi đứng cóm róm bởi nước thấm vào da lạnh ngắt. Lễ lạt thì chẳng kể ra làm gì dài dòng, tóm lại là có năm tên Mẽo vào trao giải, theo kế hoạch bác Fan cùng mấy tên Mẽo sẽ lên chùa Thiên Mụ vãng cảnh ăn trưa tại đó, chiều tối về đi nghe ca Huế trên sông Hương, còn nhờ Ding huynh đệ và mình sáng đó lên chơi luôn rồi mời mấy vị khách đi ăn trưa. Xong đâu đấy mời các quý khách đi, dòm quanh quất chẳng thấy Jaka đâu, em Nha Trang bảo anh ấy nổi cơn ngứa chân dông vào Hội An từ sớm rồi, không có chú em này hát hò cũng kém vui. Lẽ ra mời khách lên Chiều Quê tửu quán (là “trụ sở” thứ ba thường mở tửu hội), nhưng mưa to gió lớn thế này thôi tìm chỗ nào gần gần, vả lại buổi chiều mấy người cũng đi rồi. Họ Ding nhờ nữ quán chủ mua tôm chua thịt luộc kèm vả tươi để các vị ăn bữa cơm đúng chất Huế, tuy không có Biên Hồ tửu nhưng cuộc vui vẫn rôm rả, gọi thêm Đuôi Lươn tới hầu rượu, ghép đôi Nha Trang với Đuôi Lươn vui đáo để, bảo em thấy anh Đuôi Lươn đẹp giai vui tính không, trông vừa mắt thì vài bữa em bắt nó về nuôi nhé (dân tộc Chăm theo chế độ mẫu hệ), lại chọc Đuôi Lươn bảo chú mày lo tận hưởng lạc thú độc thân đi, kẻo đến khi em Nha Trang ra trói túm bốn vó nhét rọ mang vào thì sau này đừng hòng mà nhảy nhót, hehe…

Mấy vị khách lần đầu tiên biết tới “đặc sản” mưa Huế nên thích lắm, bác Chung và Nha Trang tròng áo mưa tiện lợi xông ra đứng giữa sân nước lênh láng chụp ảnh, vẻ mặt hí hửng như trẻ con vậy, niềm vui thật dễ thương. Lúc chụp cả nhóm, mình đứng gần em Nha Trang, thấy mọi người khoác tay nhau, mình rụt rè hỏi anh quàng vai em được không, cô bé cười nhăn răng bảo cứ tự nhiên, hehe…

Fan huynh là một tửu đồ khét tiếng trong thi xã, vô thế buộc phải dẫn mấy tên Mẽo lên chùa ăn chay nhạt thếch lại chẳng có được chén rượu ấm bụng, tuy ở trên ấy mà cám cảnh thân ở doanh Tào tâm ở Hán, trong lòng rất chi là hậm hực, “ghen tị” với không khí ăn nhậu dưới này lắm, nên thỉnh thoảng lại nhắn tin nhờ người này thay mình chúc người kia một chén cho… đỡ thèm, hahaha…

2h chiều mọi người về khách sạn trả phòng lấy hành lý, biệt phái Đuôi Lươn chở em Nha Trang đi ngắm Huế lụt, còn cả hội kêu chiếc taxi, xe nổ máy rẽ nước ra… khơi mũi xe tung bọt sóng ào ào trắng xóa… Họ Ding và mình đưa bác Bình và bác Chung lên lên ga, biếu quà cáp và không quên kèm thêm chai rượu để tối hai bác í nốc cho dễ ngủ. Hai bác thượng lộ bình an nhé, bọn em phắn đây, chào thân ái và quyết thắng!

Trời vẫn mưa như trút, tên Ding làm ngành giao thông, trời nắng thì hắn ngồi phòng máy lạnh rung đùi đọc báo hoặc lủi đi nhậu sớm (nên toàn rủ rê cái giờ hoàng đạo của nó nhưng lại… hắc đạo với mình), còn mưa là xách xe chạy đi kiểm tra đường sá ra sao đo đếm lấy số liệu làm đề tài chống ngập lụt, thế là theo hắn rảo lông nhông quanh mấy con đường nội đô, ướt tèm lem cực quá, thôi tạt quách vào tửu quán trú mưa lai rai vậy. Gọi Đuôi Lươn tới, nó bảo em Nha Trang vào Đà Nẵng rồi, coi vẻ hơi hơi buồn, nhưng chưa đến nỗi bị cháy khét, hìhì…

Tối đó mấy vị Mẽo còn đi nghe ca Huế, nước sông Hương lên cao, tàu thuyền được lệnh neo vào bờ cả, có chiếc còn đậu luôn lên đường nhựa. Hồi trước Fan huynh rủ, mình ok ngay, kể ra đúng là “lúa”, nhưng quả thật là dân Huế mà chưa nghe ca Huế trên thuyền lần nào, nhưng lần này mưa to quá thấy ớn, tình hình nước còn lên nữa nên “rụt vòi”, kẻo nửa chừng đứt neo trôi tuốt ra cửa biển Thuận An thì bỏ mẹ, dạt đến đâu chưa biết chứ vào Hoàng Sa thì tiền quái đâu chuộc thân, ở lại cho mấy em Khựa sai vặt à, còn lâu, “ta thà làm ma nước Nam, còn hơn làm… phu quân đất Bắc”, nhưng nếu gặp giai nhân cỡ Tây Thi thì cũng miễn cưỡng gật đầu vậy, hehe…

Hôm đó lụt lớn, đường sắt sạt lở, giao thông đình trệ, mãi thứ Hai đọc báo mới biết có mấy nghìn khách bị kẹt ở ga Huế, Fan huynh nhắn tin hỏi thăm, thì ra hai bác ấy vừa mới khởi hành lúc 3h chiều, vậy là ở lại trọn một ngày nữa, mà sao chẳng thấy báo tin gì hết trơn…

Do mưa Huế lưu luyến giữ chân?
Hay bởi “gặp cô gái Huế chân đi không đành”?

Muốn rõ sự tình, chờ mấy bố ấy vào chơi hỏi sẽ biết. 😉

NTMãn

Read Full Post »

Fan huynh – Ô Khâu xã trưởng rủ mình và Ding huynh đệ – giám tửu quan của thi xã lên chùa Viên Thông tặng phiến đá ổng khắc bài thơ lần trước cùng ông bạn lên chơi tức cảnh, mình gọi lên “book” thầy trụ trì đâu vào đấy rồi, hẹn 3h chiều hôm qua đi, tới sát nút bỗng nghe bíp bíp, họ Ding nhắn bảo con ốm không đi được, rồi bíp bíp, Fan huynh bảo vừa tới đang chờ trước cổng, xuống ngạc nhiên thấy tấm đá cẩm thạch to thế, ổng cột chặt sau yên xe chỉ còn ngồi mơm mớm. Không có Ding thì không ai chở mình, ngồi lên tấm đá thì thất lễ quá, quà tặng chùa kia mà, vả lại có ngồi trông cũng kỳ cục lắm, chẳng nhẽ xếp bằng tròn à. Thế là hì hục tháo ra, gác ngang yên mình ngồi sau ôm, không ngờ nặng khiếp, dễ phải đến 30kg chứ không ít, lão Fan chỉ trỏ ra hiệu bảo đi đường Trần Phú, mình gạt phắt ra hiệu cứ đường ngắn mà tiến, đi một lúc mới thấy mệt, hai tay gồng giữ viên đá, hai chân phải ghì nó lại, thế mà lão Fan cứ nhởn nhơ ngắm cảnh hết ngoảnh bên này lại ngó bên kia không tập trung lái xe, mấy lần giật mình sực tỉnh phát hiện chướng ngại vật trước mũi vội vòng lạng tránh làm mình hết hồn, lo ngay ngáy nhỡ ngã xuống bị viên đá này đè gãy giò chứ chẳng chơi, hai tay bận cả làm sao ra hiệu được, còn hét vào tai lão cũng chẳng thèm nghe, hậm hực muốn tuôn vài câu cho hả cũng chẳng được, tức mới gớm chứ. Lên tới chùa, thở phào trút được gánh nặng theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, hai đùi hai tay in hằn bốn vệt đỏ bầm, cánh tay mỏi nhừ rã rời…

Thầy đang bận tiếp khách nên hai huynh đệ đi ngắm cảnh chơi, rồi theo lối mòn sau chùa lên núi Ngự Bình, ít người đi nên cây cối um tùm cỏ tốt sum suê, muỗi đâu mà nhiều con nào con nấy to đùng, đứng tạo dáng chụp ảnh toàn bị chúng nó phá đám, có bức giống như tự vả vào mặt mình vậy, té ra là bất thình lình đập muỗi, hehe, lên tới chân núi đứng ngó nghiêng một lúc rồi xuống. Về tới hoa cỏ may mắc đầy hai ống quần, ngồi gỡ mất một lúc lâu mới hết, cười thầm không biết nữ thi sĩ Xuân Quỳnh dấm dúi loay hoay gì trong đám cỏ may kia, thế mới nảy mấy câu “Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may/ Áo em sơ ý cỏ găm đầy/ Tình yêu mỏng mảnh như làn khói/ Ai biết lòng anh có đổi thay?”.

Khách về hết, thầy thích thú ngắm nghía món quà, rồi hỏi nên trưng chỗ nào cho hợp. Gọi chú điệu (tiểu) nhờ mua bia về, ngồi lai rai nói chuyện, chẳng còn dưa cà muối như lần trước, thầy lấy ra gói hạt điều nhắm tạm. Thầy mới đầu “lười” hay sao mà cứ bảo mi viết thế này thế kia, tức là viết lời thầy nói cho Fan huynh đọc, đã thế còn bảo chữ như vậy sao anh Dũng đọc ra, làm thư ký đã mệt rồi còn bị chê nên đổ quạu, bèn bảo chữ thầy đẹp thì tự viết đi, con bưng đá mỏi tay lắm rồi, hehe. Nói đủ thứ chuyện, mình bảo nếu con đi tu từ… 15 năm trước bây giờ chưa thể tới thượng tá (-tọa) nhưng tệ nhất cũng mang hàm đại úy (-đức) rồi chứ nhỉ, thầy gạt ngay bảo đã là người xuất gia tứ đại giai không thì chẳng cần quan tâm tới mấy điều đó nữa, chỉ là cái nhãn bên ngoài phong cho mình, “sắc” đó rồi “không” đó. Mình hỏi đùa thầy thấy con có căn tu không, thầy gật đầu cái rụp, nói đi tu cũng tốt lắm chứ, mình nghĩ bụng quái ngày nào cũng gặp cái bản mặt mình trong gương mà chả thấy có nhân tướng tu hành gì hết trơn, tưởng đâu “bất tài vô tướng”, thì ra coi bộ mình là chân nhân thâm tàng bất lộ rồi, chẳng qua viên ngọc chưa mài giũa mà thôi, ngấm ngầm khoái chí liền kính một chung khen thầy có “tuệ nhãn”, hehehe…

Trò chuyện cùng sư tới chiều tối, cảnh chùa thâm u, trời chiều đổ mưa tầm tã, thỉnh thoảng giữa cuộc sống xô bồ tìm đến chốn cửa thiền náu mình trong thanh tĩnh mong tìm chút bình yên lắng đọng tâm hồn…

An trú trong tĩnh lặng để toàn tâm toàn ý nghĩ về điều-không-tĩnh-lặng…

Ngoài kia là gió gào là mưa than, hình như một cơn bão sắp vào…

NTMãn

Khẹc! Lão đệ NTMãn chỉ giỏi biết một nói mười! Không chịu động não thử coi: huynh là bậc trượng phu nghênh ngang, nhĩ ngoại vô nhân, nhiều kẻ ghen ghét, nên đi đường mới phải liên tục ngó nghiêng hai bên, thỉnh thoảng còn ngoái nhìn đằng sau xem có tên nào muốn quẹt xe khủng bố không… Đôi khi cảm cúm, đau cổ không ngoái nhìn phía sau được là đi xe cảm thấy rất bất an, đơn giản thế thôi.
Còn vụ hành tội lão đệ phải ôm cục đá đó là ý muốn giúp lão đệ rèn luyện gân cốt, kẻo đến lúc ôm các em thì chân tay rã rời… xấu mặt lây cả thi xã nghe chưa! Hehe!

PADũng

Read Full Post »

Entry for Saturday, June 18, 2011

Mấy hôm nay Huế nóng kinh hoàng, đi làm cực chẳng đã buộc phải thò mặt ra đường chứ chỉ muốn ru rú trong nhà không rời chiếc quạt, thỉnh thoảng lại vào phòng tắm dội phát… Từ lâu nhường căn phòng nhỏ mát mẻ cho cô út chuyển ra căn phòng ngoài, trần trên đúc mái nhưng không lợp che gì cả, chiếu trúc mùa đông nằm lên giật nảy người vì lạnh vậy mà giờ nóng như rang, chốc chốc lại trở mình để… chín đều kẻo chỗ sống nhăn chỗ cháy khét, hehe…

10h sáng, bỗng gã Hương Lúa tửu hữu (tức Pei Xiangdong – người Vịt chính gốc… Khựa) gọi rủ đi lang thang tránh nóng, họ Ding đang trên đường từ Nha Trang về, Fan lão huynh thì có vụ kỷ niệm 30 năm ngày ra trường, rủ quanh chẳng còn ai mỗi hai thằng đực chán phèo…

Năm ngoái năm kia khoảng độ này lên quán Ngọc Linh nằm ngay dưới rừng thông, cũng nóng hừng hực. Nên giờ đi ngẫu nhiên gặp chỗ nào mát mẻ ghé chỗ ấy, chọn hướng xuất phát xuôi về mạn Thủy Dương, đến đường Hải Triều dọc sông An Cựu tình cờ Lúa rẽ vào dạo thử, đi quãng xa thấy một tửu quán trông dân dã quê mùa dựng ven sông liền tạt vào đánh chén. Mồi có cá thát lát tươi dân chài đánh lưới dưới sông lên còn há mồm ngáp ngáp. Gọi đĩa cá chiên vàng rộm, miếng to gần nửa bàn tay, kèm với rau húng dưa leo, ngon mất hồn. Gặp hôm lặng gió, hơi nước sông không đủ xua đi cơn nóng nực, trời lại sắp giông nên càng oi bức tợn. Ngồi nóng, chuyện vãn, lại kéo nhau đi nhưng chưa biết là đi đâu, chợt mình nảy ý lên chùa Viên Thông chơi, trên núi gió mát lại nhiều cây cối, Lúa ok ngay tắp lự. Viên Thông ngoài sự cổ kính còn được khá nhiều khách thập phương biết đến bởi nổi tiếng một việc mà ngày ngày đều có người lên lễ cúng.

Hai thằng mặt đỏ gay nhơn nhơn xông vào chùa, gặp phương trượng Quảng Tú đang ngồi uốn cây cảnh, vừa khéo trời đổ cơn mưa rất to, sầm sập ào ạt quá đã, Lúa ta chào hỏi vài câu qua loa xong tót lên sập gỗ thực hiện nghi thức “ba xoa hai đập” rồi lăn khoèo ra đánh giấc. Mình cũng buồn ngủ ríu mắt nhưng ngại ông thầy nghĩ bọn này lên kiếm chỗ ngủ chứ thăm nom cái nỗi gì nên đành chống mắt ngồi hầu chuyện, nhân tiện ghi phiên âm chữ Hán bài thơ Ngẫu quá Viên Thông tự của Fan lão huynh cùng hai bản dịch bài thơ đó, mím môi mím lợi trổ hết công phu thư pháp nét chữ như “rồng bay phượng múa”, viết xong quẳng bút ngoẻo đầu ngắm nghía, càng ngắm càng dương dương đắc ý (thành thật mà nói, nếu dùng bút mực vẫn còn phảng phất nét fantasie thuở nào). Thầy cầm tờ giấy hết lật ngửa lại xoay nghiêng, đeo kính vào lại bỏ kính ra, nhăn trán nheo mắt khổ sở đánh vần từng chữ, xong chán ngán lắc đầu bảo thôi mi đọc để tau chép lại, nói đoạn trải giấy mài mực trò đọc thầy chép rất ư là nghiêm cẩn, thầy xem đi xem lại ngẫm ngợi tỏ ý rất thích thú. Ngủ chán Lúa thức dậy, thầy cũng vừa uốn xong chậu cây, cùng ngồi uống trà đàm đạo, vui chuyện hai tên nhờ chú tiểu gọi bia vào mời, thầy mang ra hũ dưa cà ớt muối làm thức nhắm, gió hiu hiu mát rượi vô cùng cao hứng, liền nhắn tin “nhem thèm” Fan lão huynh, hồi lâu lão chở theo ông bạn ghé lên, lại gọi bia vào uống tiếp. Nhớ có lần lâu lắc đi với thằng Vincent (tên Vinh, làm ngành xăng dầu), hai thằng chọn quán rồi sao vẫn thấy không có hứng, bởi có rượu ngon nhắm tốt bạn hiền nhưng chỗ thì không thi vị tẹo nào, nghĩ đi nghĩ lại chỉ có… chiếc bàn đá trước sân chùa ngồi đối ẩm mới khoái chí (vậy mới khùng chớ, phải tội chết), đã có chủ ý liền bảo tiểu nhị thái vài cân thịt cắp theo vò rượu dông tuốt lên chùa bày ra bàn nhậu, hôm đó may thay cả thầy lớn lẫn thầy nhỏ đóng cửa đi cúng kiếng đâu hết trơn chỉ có mấy con khuyển ra dẩu mõm hóng chuyện, chứ gặp chắc chắn bị chửi cho không ghê thì thôi, chưa chừng còn được lấy cán chổi tống tiễn, nghĩ tới vụ này cứ mủm mỉm cười một mình hoài, may mà thầy không để ý, haha.

Chùa đang có một tên sinh viên ở nhờ (ba nó trước là đệ tử của thầy, sau hoàn tục), thoạt nghe lãng mạn kiểu Trương Quân Thụy khăn gói tá túc mái hiên tây chùa Phổ Cứu, nhưng sự thật thì trần trụi xấu xí, đã chẳng có Thôi Oanh Oanh, còn nghe phàn nàn thằng này cực kỳ lười biếng chẳng chịu giúp việc gì, chùa neo người chỉ có một sư một tiểu ngày ngày kinh kệ lo đủ thứ chuyện nay còn phải “hầu” (nuôi không) thêm một thằng dài lưng tốn vải, cũng may đã qua được ba năm rồi, chịu khó “hầu” thêm năm rưỡi nữa nó cút ra trường là thoát kiếp nạn. Nghe buồn cười, nhưng bỗng… “nhột” trong người…

Vì có lần mình từng vênh vang tự đắc với ý tưởng “độc đáo” sẽ lên chùa lánh cho qua kỳ nghỉ Tết, cắt hết mọi kênh liên lạc như điện thoại chat, tránh mặt bà con bạn bè khách với chả khứa, tránh biệt những lời chúc tụng hỏi thăm nhàm chán ớn tận cổ vì năm nào cũng chỉ có chừng ấy chuyện… Sau một hồi hí hửng, chợt tỉnh người sực nhớ phải xem xem trên ấy có… bình tắm nước nóng hay không, rồi chả nhẽ ru rú ngồi thưởng trà nghe chuông mõ mãi cũng buồn, cần quả internet lướt web nắm tình hình thế giới chớ, rồi có được nằm ườn ra cả ngày chẳng phải động tay chân không, mà lâu lâu ăn chay một bữa còn được chứ riết mấy ngày chịu sao thấu, chả nhẽ bắt chước Lỗ Trí Thâm lẻn xuống núi kiếm tí “mồi tươi” chăng, vân vân và vân vân…. Xem ra cũng lắm điều trở ngại phết, cần phải điều nghiên chu đáo… Lâu dần nguội dần rồi… trôi đò luôn (hy vọng trong tương lai gần sẽ thực hiện).

Ngất ngưởng hào khí, mình nói dịp nào cuối tuần con sẽ lên chùa nghỉ lại tĩnh tâm, thầy bảo cửa Phật luôn sẵn lòng, nhưng dường như còn có chút gì đó… ngại ngần. Còn gì nữa, chắc là ngán đám Ô Khâu tửu hữu rầm rộ kéo nhau lên “thăm nuôi” chí chóe bày tiệc, khuấy động cảnh chùa thanh tịnh, haha!

Xế chiều về, Lúa rụt rè đề nghị nên duy trì và nhân rộng “nét văn hóa” đi lễ chùa này trong suốt mùa nóng nực, nhất trí thôi. Về tới nhà hơn 5h, vừa ngả lưng xuống chuông điện thoại lại réo vang giục giã…

Khổ ghê vậy đó, phắn đã, bibi!

NTMãn

Read Full Post »

Tự cổ chí kim, bao anh hùng hào kiệt, văn nhân lãng tử đa phần là đệ tử trung thành của Tửu đạo. Những lúc tương ngộ, thứ đầu tiên và không thể thiếu – đó là rượu, dần dà trịnh trọng nâng lên thành nghi thức “phi tửu bất thành lễ”. Và rồi vô vàn tuyệt phẩm thi nhau ra đời trong những cuộc ngả nghiêng đó.

Từ phong thái lồng lộng hào sảng của Tiêu Phong đại hiệp trong Thiên Long Bát Bộ đến sành điệu cao nhã như Tổ Thiên Thu và Đan Thanh sinh trong Tiếu ngạo giang hồ. Rồi nhấp từng giọt nồng đắng cùng Lý Tầm Hoan trong Đa tình kiếm khách vô tình kiếm, thăm thẳm nỗi mênh mang cô đơn mà chứa chan sầu muộn… Mình không ưa mấy hảo hán Lương Sơn Bạc hùng hổ bặm trợn, lỗ mãng “thịt thái miếng to, rượu đong bát lớn”, cái lối nhậu nhẹt giới tao nhân mặc khách vốn quen thói điệu đàng thanh cảnh thường chau mày khinh bạc bảo là nốc – xực không hơn không kém.

Mỗi khi đọc Lương Châu từ, chỉ vẻn vẹn bốn câu ngắn ngủi thôi mà cứ ngân nga xao xuyến mãi trong hồn, lãng đãng chơi vơi trong cái thần khí đẫm chất bi hùng đầy vấn vương ám ảnh ấy.

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Kẻ vãn sinh hậu bối trong cơn tửu hứng ngông nghênh gõ bàn ngâm rằng “Túy ngọa… ngay bàn quân mạc tiếu/Cổ lai… nhậu xỉn kỷ nhân hồi” (tạm dịch: “Gục ngay bàn, chớ ai cười/Xưa nay nhậu xỉn mấy người về đâu”), vu vơ ngắm vài mỹ nhân lả lướt phiêu diêu qua lại, bỗng miên man tình ý nhàn đàm tửu sắc…

***

“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng”, mà thói thường “anh hùng nan quá mỹ nhân quan”, các bậc anh hùng danh tướng xưa nay mấy ai qua nổi ải mỹ nhân, sử sách đã ghi không ít bậc đế vương như Ngô Vương Phù Sai, Trụ Vương, U Vương… chìm đắm cả giang sơn cơ đồ cũng chỉ vì ham mê nữ sắc. Theo giai thoại, ở xứ ta đời Hậu Lê, một bậc đại quan từng buông tiếng thở dài “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” cám cảnh cho kết cuộc những kẻ đa tình bi thương ngậm ngùi ôm mối thiên cổ hận đó.

Mỹ nhân làm bao kẻ mê muội say tình, mỹ tửu cũng tựa giai nhân, khiến người ta mê man say khướt, u mê điên đảo thần hồn. Đến nỗi trong hơi men chếnh choáng, Bích Khê hốt nhiên quên bẵng chính mình, bàng hoàng tự vấn “Tóc mây chảy suối hương nồng/Em là Ngọc Nữ, Kim Đồng là ai?”. Thi nhân Vũ Hoàng Chương huyễn hoặc giữa đôi bờ Liêu Trai mộng ảo, hương kiều nữ đêm qua cùng chuốc chén còn như phảng phất đâu đây, rưng rưng thổn thức “Em ơi lửa tắt bình khô rượu/Đời vắng em rồi say với ai”.

Nét duyên – đấy là sự hài hòa, hài hòa không hẳn phải hoàn mỹ, nhờ bàn tay phối trí khéo léo tài tình của tạo hóa. Giả như có gã dở hơi, kỳ công chọn trong tranh ảnh những chi tiết nào mình mơ ước mà sưu tầm lại, kìa mắt phượng này mày ngài, đây môi hạnh kia má đào… Không chừng, sau khi tỉ tê ghép cả lại thành gương mặt nữ nhân hoàn chỉnh, háo hức si mê giương đôi mắt ngắm người trong mộng hằng ngày đêm tơ tưởng, chợt nấc lên hoảng hốt tuyệt vọng rồi… té xỉu.

Mỹ tửu được tạo nên từ sự kết hợp hài hòa của thiên nhiên với con người, từ lúc gieo cấy mưa thuận gió hòa, đến khi mùa màng bội thu tới quá trình chưng cất công phu tỉ mỉ… chỉ kém đi một phần sẽ nhận kết quả không như ý. Thong dong chiêu một ngụm, cảm được hơi nóng gắt của nắng hạ, trong mát của mưa thu, hương ngọt thơm của lúa mới và dường như có lẫn vị mồ hôi những người nông phu vất vả cần cù một nắng hai sương, mà đặc biệt nếu nhỡ quá chén thì về sau tuyệt không để lại dư hậu.

Giai nhân đương nhiên đẹp, vẻ đẹp mặn mà quyến rũ, khuynh quốc khuynh thành – cũng vậy, mỹ tửu thường là loại rượu mạnh, hương vị đậm đà nồng nàn mê hoặc. Vì đẹp, nên không hiếm nàng khá là kiêu kỳ (tiếng lóng đương thời gọi là “chảnh”), tự hào hy vọng rằng trong thiên hạ chỉ mỗi mình ta là đệ nhất mỹ nhân, ngấm ngầm không chịu hạ mình ngang hàng cùng ai – cũng thế, nếu chỉ “thủy chung” nhâm nhi một loại mỹ tửu chẳng sao, nếu dại dột “chung chạ” thêm thứ khác vào thì sau này mới hối hận, vật vã tơi bời, tỉnh lại rũ rượi như tàu chuối héo. Mới hay, ngoài mỹ nhân, mỹ tửu cũng biết “ghen” đấy chứ?

Có mỹ tửu thôi, chưa đủ…

“Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”, hẳn nhiên rồi, mấy lúc vui vẻ hay đôi khi muộn phiền luôn cần bằng hữu san sẻ, và ngồi cùng tri kỷ đâu cần phải nhiều lời. Thêm nữa là tửu quán, tìm chốn nào thoáng đãng sạch sẽ, dù đơn sơ giản dị nhưng nhất thiết không ồn ã xô bồ. Bâng khuâng nâng chén, mơ màng ngỡ đây quán chợ chiều cuối năm, trên chiếc bàn góc xa kia Nguyễn Bính phừng phừng ngạo nghễ phóng bút viết Hành phương Nam “Nợ tình chưa trả tròn một món/Sòng đời thua đến trắng hai tay”. Rượu thiếu bạn bè quả khó lòng dốc chén, ngồi nhà đôi lần hứng chí tự thưởng vài chung khơi nguồn cảm hứng, thế mà sau vài ly mắt ríu lại chỉ thấy mỗi chiếc giường, rõ cụt hứng. Khác những kẻ hôm nào không có tí tửu miệng mồm nhạt hoét, ở nhà mà chân cẳng cứ lăn tăn ngọ nguậy, thì hầu như đó là những con “sâu rượu” chính tông, thậm chí có vị còn được ban tặng ngoại hiệu “Thần Men đại hiệp”.

Thi tiên Lý Bạch mặc lòng cuồng phóng bao nhiêu khi đem “ngũ hoa mã, thiên kim cừu” đổi lấy mỹ tửu đối ẩm cùng bạn hiền, thì cụ Nguyễn Khuyến trong gia cảnh thanh bần đã tinh tế kín nhẽ “Rượu ngon không có bạn hiền/Không mua không phải, không tiền không mua” bấy nhiêu. Để rồi sau những cuộc “dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu”, nửa đêm về sáng giật mình choàng tỉnh, hoang mang lênh đênh trong trống rỗng chán chường và bẽ bàng cô tịch – “Cái chai không rượu, tôi còn vỏ chai”

Xưa, cụ Tiên Điền từng ưu tư day dứt “Bất tri tam bách dư niên hậu…”. Hơn trăm năm sau, khi nỗi u hoài ấy còn bàng bạc chưa phai, có người thi sĩ chốn núi Tản sông Đà vội ngỏ ý băn khoăn trăn trở “Trăm năm thơ túi rượu vò/Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai?”.

Chắc lẽ, dù đến nghìn năm sau, hễ cứ còn mỹ tửu, thì giới tửu đồ vẫn thế…

@Hoàng hôn trên động Sầm
Biên Hồ tửu quán, Thủy Dương thôn

27/02/2010
NTMãn

Read Full Post »